Trang chủ > Lớp 6 > Soạn Văn 6 VNEN > Bài 13: Ôn tập truyện dân gian (trang 83 sgk Ngữ văn 6 tập 1 VNEN)

Bài 13: Ôn tập truyện dân gian (trang 83 sgk Ngữ văn 6 tập 1 VNEN)

Kể tên các truyện kể dân gian em đã từng được học ở kì 1 lớp 6 và cho biết thể loại của mỗi truyện.

Trả lời:

Các truyện dân gian em đã được học ở kì 1 lớp 6:

- Truyền thuyết: Thánh Gióng; Sơn Tinh Thủy Tinh; Con rồng cháu tiên; Bánh chưng bánh giầy; Sự tích Hồ Gươm.

- Truyện cổ tích: Thạch Sanh; Sọ Dừa; Em bé Thông minh.

- Truyện ngụ ngôn: Thấy bói xem voi; Đeo nhạc cho mèo; Ếch ngồi đáy giếng; Chân, Tay, Tai, Mắt, Miệng.

B. Hoạt động hình thành kiến thức

1. Điền vào chỗ trống trong bảng dưới đây các kiến thức thật ngắn gọn và nội dung nghệ thuật của từng truyện dân gian đã học.

TRUYỆN DÂN GIAN
Thể loại Tác phẩm Nội dung Đặc điểm nghệ thuật nổi bật
1. Truyền thuyết Sơn Tinh, Thủy Tinh ... ...
Thánh Gióng ... ...
2. Truyện cổ tích Em bé thông minh ... ...
Thạch Sanh ... ...
3. Truyện ngụ ngôn Treo biển ... ...
4. Truyện cười Ếch ngồi đáy giếng ... ...

Trả lời:

TRUYỆN DÂN GIAN
Thể loại Tác phẩm Nội dung Đặc điểm nghệ thuật nổi bật
1. Truyền thuyết Thánh Gióng Thánh Gióng - biểu tượng rực rỡ của sức mạnh và ý thức bảo vệ đất nước. Thể hiện ước mơ và quan niệm của nhân dân từ buổi đầu lịch sử về người anh hùng giúp nước chống giặc. Tưởng tượng kì ảo
Sơn Tinh, Thủy Tinh Giải thích hiện tượng mưa bão, lũ lụt hàng năm, thể hiện tinh thần đoàn kết, sức mạnh, ước mơ của người Việt xưa muốn chế ngự thiên tai. Ca ngợi công lao dựng nước của thời các vua Hùng. Tưởng tượng kì ảo
2. Truyện cổ tích Thạch Sanh Thể hiện niềm tin và ước mơ về đạo đức, xã hội công lí và lí tưởng nhân đạo, yêu hòa bình của người dân. Tưởng tượng kì ảo
Em bé thông minh Đề cao sự trí khôn dân gian, sự thông minh của con người, tạo tiếng cười vui vẻ và hồn nhiên trong cuộc sống. Tưởng tượng kì ảo
3. Truyện ngụ ngôn Ếch ngồi đáy giếng Phê phán những kẻ thiếu hiểu biết mà huênh hoang, khuyên răn người ta phải biết mở rộng hiểu biết, không được chủ quan, kiêu ngạo. Rút bài học
4. Truyện cười Treo biển Phê phán nhẹ nhàng những người sống mà không có chủ kiến, không giữ vững lập trường. Rút bài học

2. Vẽ bản đồ tư duy trên giấy khổ A0 hoặc vào vở bài tập để ghi thể loại, tên các tác phẩm truyện dân gian theo bảng trên.

Trả lời:

3. Trả lời câu hỏi.

a. Khi kể chuyện tưởng tượng em có thể tùy ý muốn của mình mà đưa thêm vào bất cứ chi tiết, hoặc sự kiện nào đó được hay không? Tại Sao?

Trả lời:

Không. Vì chuyện tưởng tượng tuy là tưởng tượng nhưng không thể sử dụng các chi tiết quá vô lý khiến câu chuyện thiếu sự tin tưởng, nội dung không rõ ràng.

b. So sánh thể loại truyền thuyết với truyện ngụ ngôn, truyện cổ tích với truyện cười.

Trả lời:

- So sánh thể loại truyền thuyết với truyện cổ tích:

Truyền thuyết Truyện cổ tích
Giống - Có sử dụng yếu tố tưởng tượng kì ảo
- Sự ra đời một cách thần kì, nhân vật chính có khả năng và sức mạnh phi thường
Khác - Kể về các nhân vật và các sự kiện liên quan đến lịch sử.
- Biểu đạt thái độ và cách đánh giá của người dân với các nhân vật hoặc sự kiện lịch sử.
- Kể về cuộc đời của một số kiểu nhân vật quen thuộc: bất hạnh, xấu xí, mồ côi, dũng sĩ, tài năng…
- Thể hiện niềm tin, ớc mơ, nhân dân về chiến thắng của cái thiện trước cái ác, xã hội công lí.

- So sánh thể loại truyện ngụ ngôn với truyện cười:

Truyện ngụ ngôn Truyện cười
Giống - Kể bằng thể loại văn xuôi, có sử dụng yếu tố gây cười
- Thường có mục đích chế giễu hoặc phê phán những việc làm sai trái
Khác - Mượn truyện đồ vật hay con vật hoặc chính con người để nói bóng nói gió.
- Nêu ra bài học răn dạy.
- Kể về các hiện tượng đáng cười.
- Tạo tiếng cười mua vui hoặc phê phán các thói hư tật xấu trong xã hội.

4.Tìm hiểu về chỉ từ

Đọc đoạn trích và thực hiện các yêu cầu ở dưới:

Ngày xưa, có một ông vua nọ sai một viên quan đi khắp đất nước để dò la tìm người hiền tài giúp nước. Viên quan ấy đã đi qua rất nhiều nơi, đến đâu viên quan cũng ra những câu đố oái oăm để chào hỏi và thử thách mọi người. Đã mất công tìm kiếm nhưng mãi mà viên quan vẫn chưa tìm thấy người thật lỗi lạc.

Một hôm, viên quan đi ngang qua một cánh đồng kia, chợt thấy có hai cha con nhà nọ đang cày ruộng…

a. So sánh các từ và cụm từ dưới đây:

- ông vua/ ông vua nọ

- viên quan/ viên quan ấy

- cánh đồng/ cánh đồng kia

- nhà/ nhà nọ

b. Nêu tác dụng của những từ được in đậm

c. Các từ được in đậm trong các câu trên được gọi là chỉ từ. Em hãy nêu khái niệm về chỉ từ.

Trả lời:

a. Các từ ông vua nọ, cánh đồng kia, nhà nọ, viên quan ấy cụ thể hơn, rõ ràng hơn so với các danh từ viên quan, ông vua, cánh đồng, nhà.

b. Các từ được in đậm có tác dụng xác định vị trí của sự vật, làm cho danh từ thêm rõ nghĩa.

c. Chỉ từ là những từ có tác dụng trỏ vào sự vật, nhằm xác định vị trí của sự vật trong thời gian hoặc không gian.

C. Hoạt động luyện tập

1. Cho đề bài và các ý kiến dưới đây/ con vật gần đây, hãy sắp xếp lại các ý kiến đó (có thể bổ sung) để làm thành một dàn ý sơ lược: "Mượn lời của một đồ vật/ con vật gần gũi với em để kể về chuyện tình cảm giữa em với đồ vật/con vật đó".

a. Cô luôn có các cử chỉ nhẹ nhàng để biểu đạt sự tôn trọng tôi.

b. Tôi luôn cảm thấy vui khi thường xuyên được nói chuyện với cô.

c. Tôi là cuốn sách Hướng dẫn học Ngữ văn 6, tập một, tôi rất yêu mến cô chủ nhỏ của tôi.

d. Cô chủ luôn chăm chút cho vẻ bề ngoài của tôi một cách cẩn thận.

e. Tôi buồn suốt một tuần liền khi cô chủ bị đau mắt đỏ nên không thể gặp tôi được.

f. Tôi mong cô không chỉ được tôi mà còn được tất cả những người bạn xung quanh tôi yêu mến.

Trả lời:

Sắp xếp theo trình tự như sau: c, a, d, b, e, f.

Ta có thể bổ sung thêm các ý như sau:

c. Tôi là cuốn sách Hướng dẫn học Ngữ văn 6, tập 1, tôi rất yêu mến cô chủ nhỏ của mình. Tôi chính là món quà mà ba của cô chủ đã tặng cô với mong muốn cô luôn chăm chỉ cố gắng học tập.

a. Cô ấy là một cô gái rất hiền dịu, luôn có ý thức trân trọng, giữ gìn đồ vật. Cô ấy luôn có những cử chỉ nhẹ nhàng để bày tỏ sự tôn trọng tôi.

d. Cô luôn chủ chăm chút vẻ bề ngoài của tôi một cách cẩn thận. Cô ấy bọc bìa sách một cách cẩn thận, và còn dán cho tôi một chiếc nhãn vở thật xinh màu hồng.

b. Tôi luôn cảm thấy vui khi thường xuyên được nói chuyện với cô.

e. Suốt một tuần liền cô chủ không ngó ngàng đến tôi vì cô bị đau mắt đỏ, tôi cảm thấy rất buồn.

f. Cô chủ là một người rất tốt bụng, đáng yêu. Tôi mong cô không chỉ được tôi mà còn được tất cả những người bạn xung quanh tôi yêu mến.

2. Kể chuyện trước lớp.

3. Luyện tâp về chỉ từ.

a. Viết từ 3-4 câu về chủ đề bất kì (trong mỗi câu có dùng một chỉ từ).

Trả lời:

Ngày ấy, tôi thường dắt Bin cùng đi khắp nơi. Chú chó này đã đi cùng tôi trong suốt những năm tháng tuổi thơ của tôi. Đến bây giờ, Bin đã có một gia đình riêng của mình, có vợ và lứa con đầu tiên của mình. Chính tay tôi đã lấy những miếng gỗ rồi đóng thành ngôi nhà xinh xắn cho Bin và những cậu nhỏ khác, tôi rất quý chúng.

b. Trao đổi với bạn về những chỉ từ đã dùng (Đó là các từ nào? Các từ đó có chức năng ngữ pháp gì trong câu? Tác dụng của các chỉ từ đó trong câu? Nếu lược bỏ chỉ từ thì có ảnh hưởng như thế nào tới ý nghĩa của câu? )

Trả lời:

- Những chỉ từ đã dùng như: nọ, ấy, kia, này…

- Chức năng ngữ pháp của chỉ từ trong câu: xác định vị trí của sự vật trong thời gian hoặc không gian; thường đóng vai trò phụ ngữ trong cụm danh từ, làm trạng ngữ hoặc chủ ngữ trong câu.

- Nếu lược bỏ bớt chỉ từ, các cụm danh từ sẽ mất đi tính xác định, câu sẽ thiếu nghĩa.

D. Hoạt động vận dụng

1. Giả sử lớp em sắp tham gia một buổi sinh hoạt văn nghệ và em được giao nhiệm vụ chuẩn bị một tiết mục kể diễn cảm một câu chuyện dân gian. Hãy lựa chọn một câu chuyện nào đó mà em thích để hoàn thành nhiệm vụ đó.

Trả lời:

Kể chuyện cổ tích: Tra tấn hòn đá

Ngày xưa có hai vợ chồng nhà nghèo, lúc nào cũng đầu tắt mặt tối, ăn bữa sáng không biết có bữa chiều không. Kỳ ấy năm hết Tết đến mà trong nhà họ vẫn không có lấy một bát gạo. Mãi về sau người chồng đã chạy đến các cửa nhà giàu, nói sùi cả bọt mép mà cũng chỉ vay được ba công non. Tuy vậy ông vẫn rất vui, người chồng vội vã chạy về để sáng hôm sau cho vợ kịp sắm tết vì đã ngày 30 rồi.

Sau dùng hết số tiền để sắm đồ, người vợ đội mùng lên đầu rồi đi ra phía cổng chợ. Trên đường về bà vợ phải lội qua một cái mương nước. Chẳng may khi bước chân lên một hòn đá thì bất ngờ bị trượt chân ngã xuống nước. Bao nhiêu thịt, gạo, vàng, hương… trong mùng đều bị ướt và ngập vào bùn. Thấy số phận mình sao đen đủi, người đàn bà không buồn nhặt đồ lên nữa, ngồi bệt xuống bên vệ đường, khóc lóc một cách thảm thiết.

Đang khóc, bỗng có một ông viên quan huyện đi ngang qua đấy. Thấy có chuyện lạ, viên quan sai lính dừng võng, gọi người đàn bà đến gần và hỏi vì sao lại khóc? Người đàn bà mếu máo kể lại sự tình của mình và việc đã xảy ra vừa rồi cho quan nghe.

Quan huyện vốn là người có tính thương người, nghe lời than thở thì động lòng thương, bèn nghĩ ra kế để giúp đỡ.

- Cứ như lời bà khai thì hòn đá kia là kẻ gây tội. Dù nó là hòn đá thì cũng không được vượt phép nước. Ta sẽ vì nhà mụ mà bắt hòn đá bồi thường. Lính đâu! Đưa hòn đáo về công đường đối chất.

Thấy bọn lính hầu đang ngơ ngác, quan thét lên làm ngay.

Khi thấy hòn đá ỳ không dậy, ông bảo trói nó lại và khiêng về huyện để tra tấn cho được mới nghe.

Nhiều người nghe tin quan huyện sắp tra tấn hòn đá để đòi bồi thường rượu thịt thì ai cũng thấy được tò mò, vội đổ xô đến huyện đường để chứng kiến quan xử hòn đá. Người dân đến đông đứng chật kín cả cổng huyện. Quan truyền cho lính đặt hai cái thúng ở cửa huyện, dặn rằng ai bỏ vào đấy ba mươi đồng kẽm sẽ được vào xem xét xử. Trong khi đó, ở phía công đường có mấy tên lính đã được cắt sẵn việc tra tấn. Tiếng tiếng quát nạt, tiếng hỏi cung, tiếng roi vụt cứ văng vẳng phát ra cổng huyện. Mọi người ai nấy đều tranh nhau ném tiền vào thúng để được vào xem. Khi hai cái thúng đã chứa đầy tiền, quan bèn sai bọn lính lệ tạm dừng roi vọt, rồi ông đứng trước mọi người và chỉ tay vào nguyên cáo bị cáo phân xử:

- Bản chức đứng trước một vụ án vô cùng rắc rối. Theo như lời nguyên cáo và tất cả chứng tá khai thì tội trạng của bị cáo đã sáng tỏ rành rành, không thể tranh cãi vào đâu được, mặc dù đến giờ hòn đá vẫn chưa chịu cung xưng. Bản chức ra quyết định bắt bị cáo phải bồi thường đầy đủ mọi thiệt hại. Thế nhưng, xét nó không có gì để bồi thường cho người bị hại. Tất cả mọi người tới đây vì thương hại bị cáo nên mỗi người giúp một ít. Vậy bản chức ra quyết định: số tiền trong thúng bất kể được bao nhiều đều sẽ giao hết cho nguyên cáo được quyền sử dụng. Còn bị cáo được tha về chỗ cũ hay đi đâu tùy ý.

Tất cả mọi người lúc này mới nhận ra là đã mắc mưu quan nhưng không a tỏ vẻ tiếc của cả. Còn người đàn bà kia thì nọ sung sướng đưa tiền về nhà

2. Trong vai một họa sĩ em hãy nghĩ ra một ý tưởng cho một bức tranh về nơi em sẽ ở sau mười năm nữa. Nói với bạn em về ý tưởng đó của em.

Trả lời:

Ý tưởng cho bức tranh nơi mà mười năm sau em sẽ sống:

- Đó là một ngôi nhà được làm bằng gỗ ngự trên giữa cánh đồng hoa bất tận.

- Căn nhà sống chan hòa cùng với thiên nhiên, không khí không ô nhiễm và đầy khói bụi như thành phố mà hoàn toàn trong lành.

- Ở đó, em và gia đình sẽ thỏa thích trồng hoa, trồng rau và lương thực hàng ngày.

3*. Bình luận với bạn em về cách dùng những chỉ từ được in đậm trong các câu sau: Đấy vàng, đây cũng là đồng đen Đấy hoa thiên lí, đấy sen Tây Hồ.

Trả lời:

Các chỉ từ “đấy” và “đây” có tác dụng xác định sự vật trong không gian và thời gian.

E. Hoạt động tìm tòi mở rộng

1. Hỏi người thân của em về một truyện dân gian mà họ yêu thích nhất. Ghi lại các lí do khiến họ thích truyện dân gian đó.

Trả lời:

Mẹ em rất thích truyện cườiThầy bói xem voi. Vì:

- Truyện có nội dung phê phán về sự hiểu biết nông cạn của các ông thầy bói khiến mẹ em buồn cười.

- Truyện cũng là bài học răn dạy về việc lắng nghe, tôn trọng ý kiến của người khác, về sự hiểu biết một cách toàn diện.

2. Trao đổi với người thân về ý nghĩa thực tiễn của các truyện dân gian đã từng học.

Ý nghĩa thực tiễn của các truyện dân gian đã được học:

- Tôn vinh, ca ngợi người anh hùng cứu nước, thể hiện tinh thần yêu nước chống giặc ngoại xâm, tinh thần đoàn kết cộng đồng để chống lại thiên tai.

- Răn dạy con người những điều hay lẽ phải, những đạo lý tốt đẹp trong cuộc sống.

- Phê phán các thói hư tật xấu trong xã hội.