Trang chủ > Lớp 6 > Soạn Văn 6 VNEN > Bài 1: Thánh Gióng (trang 3 Ngữ văn 6 tập 1 VNEN)

Bài 1: Thánh Gióng (trang 3 Ngữ văn 6 tập 1 VNEN)

1: Quan sát hình ảnh về nhân vật Thánh Gióng dưới đây:

Hãy miêu tả hành động của nhân vật Thánh Gióng trong bức tranh bên. Trao đổi với bạn bè về chi tiết mà bản thân ấn tượng nhất khi đọc hoặc nghe ai đó kể truyền thuyết Thánh Gióng.

Trả lời:

- Bức tranh miêu tả Thánh Gióng với dáng vẻ oai hùng, cưỡi ngựa sắt quét đánh tan gặc Ân ra khỏi bờ cõi nước Nam với vũ khí là cây tre (biểu tượng củathôn quê).

- Chi tiết ấn tượng nhất: Từ đỉnh núi, Thánh Gióng cưỡi ngựa sắt bay về trời – hình ảnh Thánh Gióng hòa cùng với thiên nhiên đất trời, sự sống bất tử của anh hùng xả thân vì nước.

B. Hoạt động hình thành kiến thức

1. Đọc văn bản sau: THÁNH GIÓNG.

2. Tìm hiểu văn bản.

a. Đọc và đánh số thứ tự vào mỗi ô trước những chi tiết dưới đây theo đúng trình tự sự việc xuất hiện trong truyện Thánh Gióng:

- Dưới thời Hùng Vương thứ sáu, ở làng Gióng có hai vợ chồng ông lão sống rất phúc đức nhưng lại chưa có con.

- Đứa bé cất tiếng nói đầu đời, xin đi đánh giặc.

- Đứa trẻ lên ba mà vẫn chưa biết nói, biết cười cũng chưa biết đi, đặt đâu nằm đấy.

- Giặc Ân xâm lược nước ta. Thế giặc rất mạnh.

- Đứa bé lớn nhanh như thổi. Bà con làng xóm góp gạo nuôi bé, mong đứa bé giết giặc cứu nước.

- Một hôm, bà lão ra đồng thấy có một vết chân to, bà ướm thử, về nhà biết mình mang thai, sau mười hai tháng thì sinh ra một đứa bé rất khôi ngô.

- Đứa bé xin vua cho một con ngựa sắt, áo giáp, roi sắt sắt để đánh giặc.

- Đánh tan giặc Ân, tráng sĩ cởi áo giáp sắt để lại, cưỡi ngựa sắt và bay thẳng về trời.

- Đứa bé vươn vai một cái bỗng trở thành một tráng sĩ, cưỡi ngựa xông ra trận địa giết đánh giặc, giết hết lớp giặc này đến lớp giặc khác.

Trả lời:

Trình tự những chi tiết có trong truyện Thánh Gióng:

(1) Dưới thời Hùng Vương thứ sáu, ở làng Gióng có hai vợ chồng ông lão sống rất phúc đức nhưng lại chưa có con.

(2) Một hôm, bà lão ra đồng thấy có một vết chân to, bà ướm thử, về nhà biết mình mang thai, sau mười hai tháng thì sinh ra một đứa bé rất khôi ngô.

(3) Đứa bé lớn nhanh như thổi. Bà con làng xóm góp gạo nuôi bé, mong đứa bé giết giặc cứu nước.

(4) Giặc Ân xâm lược nước ta. Thế giặc rất mạnh.

(5) Đứa bé cất tiếng nói đầu đời, xin đi đánh giặc.

(6) Đứa bé xin vua cho một con ngựa sắt, áo giáp, roi sắt sắt để đánh giặc.

(7) Đứa bé lớn nhanh như thổi. Bà con làng cóm góp gạo nuôi chú bé, mong chú giết giặc cứu nước.

(8) Đứa bé vươn vai một cái bỗng trở thành một tráng sĩ, cưỡi ngựa xông ra trận địa giết đánh giặc, giết hết lớp giặc này đến lớp giặc khác.

(9) Đánh tan giặc Ân, tráng sĩ cởi áo giáp sắt để lại, cưỡi ngựa sắt và bay thẳng về trời.

b. Truyện Thánh Gióng có những nhân vật nào? Theo em, ai là nhân vật chính trong truyện? Trong truyện, nhân vật chính được xây dựng dựa trên các chi tiết tưởng tượng kì ảo. Em hãy tìm và liệt kê các chi tiết đó.

Trả lời:

- Truyện Thánh Gióng có các nhân vật là: Thánh Gióng, sứ giả, nhà vua, mẹ Thánh Gióng, dân làng giặc Ân.

- Nhân vật chính: Thánh Gióng được miêu tả bằng các chi tiết kỳ ảo:

+ Sự ra đời: Bà mẹ ướm chân lên vết chân to ngoài cánh đồng và thụ thai, sau mười hai tháng sinh ra cậu bé Gióng.

+ Quá trình lớn: 3 tuổi không biết nói, cười, đặt đâu nằm đấy; khi nghe sứ giả tìm người đánh giặc thì Gióng cất tiếng. Dân làng góp gạo nuôi, Gióng “lớn nhanh như thổi”.

+ Đánh giặc: Gióng vươn vai bỗng biến thành một tráng sĩ có thân hình cao lớn, cưỡi ngựa sắt, mặc áo giáp sắt, cầm roi sắt đánh xông ra trận đánh giặc, nhổ tre quật vào quân giặc → Sức mạnh phi thường.

+ Sau khi đánh tan quân giặc: cưỡi ngựa bay lên trời → không phải người bình thường.

c. Đọc kĩ đoạn trích thứ hai của truyện (từ"Bấy giờ" đến" chú bé dặn") và cho biết: Trong câu nói đầu tiên, Gióng nói về điều gì? Câu nói ấy gợi cho em suy nghĩ gì về Thánh Gióng? Những hình ảnh ngựa sắt, roi sắt và áo giáp sắt cho em thấy điều gì về vũ khí đánh giặc của nhân dân ta trong thời bấy giờ?

Trả lời:

- Câu nói đầu tiên của cậu bé Gióng với mẹ là mời sứ giả vào nhà.

- Câu nói ấy đã thể hiện tinh thần sẵn sàngra trận đánh giặc vì dân, vì nước.

- Ngựa sắt, áo giáp sắt, roi sắt đã cho thấy vũ khí đánh giặc của nhân dân ta lúc bấy giờ là rất thô sơ (theo lịch sử thì sắt từ khoảng 1000 năm TCN).

d. Đọc kĩ đoạn văn thứ ba của văn bản (từ "Càng lạ hơn nữa"... đến... "cứu nước") và nêu lên cảm nhận của em về việc: Bà con làng xóm góp gạo nuôi câu bé.

Trả lời:

Chi tiết Bà con làng xóm vui lòng mang gạo tới góp để nuôi câu bé có ý nghĩa đặc biệt:

- Trân trọng những người tài giỏi, dám vì dân vì nước. Tráng sĩ (điều vĩ đại) được nuôi dưỡng từ những điều giản dị và bình thường nhất.

- Nhân dân ta đoàn kết, đồng lòng, yêu đất nước, yêu hòa bình, không cam chịu cảnh bị giặc ngoại xâm áp bức, bóc lột.

e. Đọc kĩ các đoạn văn còn lại của văn bản và cùng nhau nêu lên suy suy nghĩ về ý nghĩa của các chi tiết sau:

- Thánh Gióng lớn nhanh như thổi, vươn vai một cái bỗng thành tráng sĩ.

- Gậy sắt gãy, Gióng nhổ tre bên đường để đánh giặc.

- Gióng đánh tan quân giặc xong, cởi áo giáp sắt để lại và cưỡi ngựa bay thẳng về trời.

Trả lời:

Ý nghĩa của các chi tiết trên:

- Gióng lớn nhanh như thổi, vươn vai bỗng thành tráng sĩ: tinh thần, ý chí đánh giặc, sức mạnh đoàn kết của nhân dân khi có giặc ngoại xâm.

- Gậy sắt gãy, Gióng nhổ tre bên đường để đánh giặc: chỉ cần có lòng yêu nước, ý chí chống ngoại xâm mãnh liệt thì cây tre làng cũng có thể biến thành vũ khí sắc bén.

- Gióng đánh tan giặc xong, cởi áo giáp sắt để lại và cưỡi ngựa bay thẳng về trời: Gióng tựa như được trời cử xuống đánh giặc cứu dân, cuộc đấu tranh này rất là đúng đắn, được trời ủng hộ. Chi tiết này có ý nghĩa là sự sống mãi của người anh hùng Gióng với non sông đất nước.

g. Truyền thuyết thường có liên quan tới sự thật lịch sử. Em hãy cho biết: Truyện Thánh Gióng có mối liên hệ đến sự thật lịch sử nào?

Trả lời:

Truyền thuyết Thánh Gióng giúp con người liên hệ đến một sự kiện lịch sử. Đó là:

- Dưới thời vua Hùng, sự xâm lược của phương Bắc tới đất nước ta

- Tinh thần yêu nước và ý chí chiến đấu đánh giặc mạnh mẽ của nhân dân ta.

- Việc sử dụng những đồ vật, vũ khí bằng sắt của người dân Việt Nam.

h. Đọc truyện, em thấy hành động nào của nhân vật Thánh Gióng là đẹp nhất? Qua câu chuyện về người anh hùng Thánh Gióng, nhân dân ta muốn gửi gắm vào câu truyện những suy nghĩ và ước mơ gì?

Trả lời:

- Hình ảnh đẹp nhất trong truyện: Gióng nhổ tre bên đường đánh giặc (sự anh hùng và tinh thần quật cường của người dân Việt Nam); Gióng cởi áo giáp sắt, cưỡi ngựa bay về trời.

- Ước mơ được gửi gắm qua câu truyện: ước mơ về sức mạnh tự cường và chí lớn của con người với non sông đất nước.

3. Tìm hiểu về văn bản, giao tiếp và phương thức biểu đạt

a. Trao đổi để giải đáp câu hỏi:

(1) Khi muốn biểu đạt một suy nghĩ, nguyện vọng hay tình cảm của bản thân với ai đó hoặc với mọi người (ví dụ: muốn khuyên nhủ ai đó điều gì đó? Muốn tham gia một hoạt động nào đó do nhà trường tổ chức, muốn kêu gọi mọi người xung quanh cùng chung tay bảo vệ môi trường…) em phải làm gì?

(2) Khi muốn biểu đạt suy nghĩ, nguyện vọng hay tình cảm của bản thân một cách đầy đủ, trọn vẹn để người khác hiểu, em cần phải làm như thế nào?

(3) Câu ca dao dưới đây đã nêu ra vấn đề (chủ đề) gì? Câu 6 và câu 8 có mối liên kết như thế nào (về nội dung và về cách gieo vần của thể thơ lục bát? ) Câu ca dao đã biểu đạt một cách trọn vẹn ý nghĩa chưa? Có thể xem câu ca dao như một văn bản được không?

Ai ơi giữ chí cho bền

Dù ai xoay hướng đổi nền mặc ai?

Trả lời:

(1) Khi muốn biểu đạt một suy nghĩ, nguyện vọng hay tình cảm của bản thân với ai đó hoặc với mọi người, em cần phải sử dụng ngôn ngữ nói, ngôn ngữ viết hoặc ngôn ngữ cơ thể.

(2) Khi muốn biểu đạt suy nghĩ về nguyện vọng haytình cảm của bản thân một cách đầy đủ, trọn vẹn nhất để người khác hiểu, em cần phải dùng ngôn ngữ nói, viết một cách rõ ràng, mạch lạc, cụ thể → tạo lập văn bản.

(3) - Câu ca dao đã cho khuyên nhủ con người cần giữ vững ý chí, quan điểm của mình dẫu cho hoàn cảnh có thể thay đổi.

- Câu 6 và câu 8 liên kết:

+ Về nội dung: câu trước ra ra ý, câu sau khẳng định một cách mạnh mẽ hơn, và giải thích nghĩa.

+ Về cách gieo vần: vần chân – lưng (bền – nền)

- Câu ca dao đã diễn đạt một ý trọn vẹn, có thể xem đó là một văn bản.

b. Nối tên từng kiểu văn bản, phương thức biểu đạt trong cột bên trái với mục đích giao tiếp thích hợp cho ở cột bên phải (theo mẫu)

Kiểu văn bản, phương thực biểu đạt Mục đích giao tiếp
(1)Tự sự (a) Bày tỏ tình cảm, cảm xúc
(2) Miêu tả (b) Nêu ý kiến đánh giá, bàn luận
(3) Biểu cảm (c) giới thiệu đặc điểm, tính chất, phương pháp
(4) Nghị luận (d) tái hiện trạng thái sự vật, hiện tượng, con người
(5) Thuyết minh (e) trình bày diễn biến sự việc
(6) Hành chính- công vụ (d) trình bày ý muốn, quyết định nào đó thể hiện quyền hạn, trách nghiệm giữa người với người.

Trả lời:

1-e

2-d

3-a

4-b

5-c

6-g

c. Cho các tình huống giao tiếp sau, hãy lựa chọn phương thức biểu cảm và kiểu văn bản thích hợp:

(1) Hai đội bóng đá muốn xin phép được sử dụng sân vận động của thành phố.

(2) Tường thuật diễn biến trận thi đấu bóng đá.

(3) Tả lại các pha bóng đẹp trong trận đấu.

(4) giới thiệu quá trình thành lập và thành tích thi đấu của hai đội

(5) Bày tỏ sự yêu thích môn bóng đá.

(6) Bác bỏ ý kiến cho rằng bóng đá là môn thể thao tốn kém, gây ảnh hưởng không tốt tới việc học tập và công tác của nhiều người.

Trả lời:

Kiểu văn bản Phương thức
(1) Hai đội bóng đá muốn xin phép sử dụng sân vận động của thành phố. Hành chính- Công vụ
(2) Tường thuật diễn biến trận đấu bóng đá. Tự sự
(3) Tả lại những pha bóng đẹp trong trận đấu. Miêu tả
(4) Giới thiệu quá trình thành lập và thành tích thi đấu của hai đội. Thuyết minh
(5) Bày tỏ sự yêu thích môn bóng đá. Biểu cảm
(6) Bác bỏ ý kiến cho rằng bóng đá là môn thể thao tốn kém, gây ảnh hưởng không tốt tới việc học tập và công tác của nhiều người. Nghị luận

C. Hoạt động luyện tập

1. Đóng vai một người ở làng Gióng vào thời vua Hùng Vương thứ sáu để kể lại truyện Thánh Gióng.

Trả lời:

Trời nắng như đổ lửa, nước ta đất đai lại rộng, tôi thân phải mang trọng trách sứ giả, biết đến đâu để tìm người hiền tài đánh giặc Ân giúp vua Hùng thứ sáu đây? Khi đi tới làng Phù Đổng, ở đây có nhiều tre quá, tôi nghe đâu đó như có tiếng gọi:

- Sứ giả ơi…

Tôi liền quay người lại, một bà lão đi đến chỗ tôi, có vẻ bà là một người nông dân lương thiện.

- Có chuyện gì vậy bà lão?

- Ông theo tôi về nhà, con trai tôi muốn xin đi đánh giặc?

Đang lo chưa tìm được người hiền tài, như chết đuối gặp được cọc, tôi nghĩ mừng trong bụng rồi liền đi theo. Thì ra cậu bé con trai bà lão mới lên ba, mẹ cậu đã mang thai 12 tháng mới sinh ra cậu. Điều lạ là sau khi bà lão ướm vết chân to ngoài ruộng, bà đã có thai, trước đó vợ chồng bà chờ mong mãi mà không có con. Còn kì lạ hơn, lên ba tuổi mà cậu bé vẫn không biết nói cười, chỉ đặt đâu nằm đấy, khi nghe thấy có tiếng tôi rao tìm người tài đánh giặc thì cậu bé liền cất tiếng. Đến nhà rồi, cậu bé ấy tên Gióng, trông cậu bé thật khôi ngô, toát ra lên vẻ thông minh lanh lợi. Nhìn thấy tôi, cậu bé nói ngay:

- Ông về tâu với vua chuẩn bị cho ta một con ngựa sắt, một tấm áo giáp sắt và một cái roi sắt, ta sẽ ra trận phá tan lũ giặc này.

Vừa kinh ngạc vừa mừng rỡ, tôi vội vã về kinh tâu với vua lời của cậu. Vua Hùng vội vã sai người tìm thợ rèn làm ngày đêm những thứ mà cậubé yêu cầu. Sau hôm đó, nghe ngóng tình hình về cậu bé, tôi được biết, cậu bé được dân làng góp gạo nuôi. Cậu bé ăn khỏe và lớn nhanh như thổi, cả làng cùng góp gạo nuôi mà Gióng ăn vẫn không đủ no, áo vừa mặc đã đứt chỉ.

Ngày giặc Ân kéo đến, tôi mang ngựa sắt, roi sắt và áo giáp sắt đến làng Phù Đổng. Gióng đứng dậy vươn vai cái bỗng biến thành một tráng sĩ có thân hình cao lớn. Gióng mặc áo giáp sắt, cưỡi ngựa sắt, cầm roi sắt rồi phi ngựa sắt xông thẳng ra chiến trận. Giặc Ân xông đến đều bị Gióng quật như ngả rạ. Bỗng nhiên roi sắt gãy, tráng sĩ Gióng liền nhổ những bụi tre ven đường rồi quật tới tấp vào giặc. Cuối cùng quân giặc yếu thế liền thi nhau chạy về nước.

Bấy giờ tráng sĩ cưỡi ngựa sắt chạy lên đỉnh núi Sóc, cởi bỏ giáp sắt và cưỡi ngựa bay về trời. Vua Hùng nhớ tới công ơn của Gióng đã phong cho Gióng là là Phù Đổng Thiên Vương, lập đền thờ tại quê nhà để người dân đến dâng hương bày tỏ lòng biết ơn. Dân chúng tôi vẫn hay gọi quen thuộc tên Thánh Gióng. Con đường Thánh Gióng đi ngày nào qua huyện Gia Bình, mỗi dấu chận ngựa là mỗi cái ao bây giờ. Tre đằng ngà có màu vàng óng vì ngày xưa bị ngựa của Thánh Gióng phun lửa mà tạo thành màu sắc như vậy. Làng này cũng vì thế mà được đặt tên là Làng Cháy.

2. Đọc các đoạn trích cho dưới đây và xác định phương thức biểu đạt của mỗi đoạn:

TT Đoạn trích văn bản Phương thức biểu đạt

a.

Trăng đang nhô lên. Mặt sông sáng lấp loáng ánh vàng. Núi Trùm Cát đứng sừng sững bên bờ sông tạo thành một khối tím thẫm mang dáng vẻ uy nghi trầm mặc. Dưới ánh trăng, dòng sông bỗng sáng rực lên, những con sóng nhỏ gợn lăn tăn đang mơn man vỗ nhẹ nhàng vào hai bên bờ cát
b. Một hôm, mẹ Cám đưa cho hai chị em Tấm, Cám mỗi đứa một cái giỏ và sai đi bắt tôm, bắt tép. Bà hứa rằng ai bắt dc đầy giỏ sẽ thưởng cho người đó một cái yếm đỏ. Tấm vốn chăm chỉ và sợ dì la mắng nên mải miết mò, chẳng mấy chốc đã bắt được đầy một giỏ cả tôm lẫn tép. Còn Cám vốn được nuông chiều nên chỉ thích vui chơi, đến chiều rồi mà vẫn không bắt được gì. Thấy Tấm bắt được một giỏ đầy tôm tép nên Cám bảo chị:
- Chị Tấm ơi, chị Tấm
Đầu chị bị lấm
Chị hụp cho sâu
Kẻo về dì mắng
Tấm tưởng Cám nói thật, hụp xuống thì Cám đã nhanh tay trút hết giỏ tôm tép của Tấm vào giỏ của mình rồi chạy về nhà trước
c. Muốn xây dựng một đất nước giàu mạnh thì cần phải có những người hiền tài. Muốn trở thành những người tài giỏi thì học sinh cần phải chăm chỉ học tập văn hóa và rèn luyện thân thể, bởi vì chỉ có học tập và rèn luyện thân thể thì các em mới có thể trở thành những con người tài giỏi trong tương lai
d. Trúc xinh trúc mọc đầu đình. Em xinh em đứng một mình cũng xinh
e. Nếu ta đẩy quả địa cầu quanh trục theo hướng từ tây sang đông thì tất cả các điểm trên bề mặt của quả địa cầu đều chuyển động, chúng sẽ thay đổi vị trí và tạo thành những đường tròn.

Trả lời:

TTĐoạn trích văn bảnPhương thức biểu đạt

a.

Trăng đang nhô lên. Mặt sông sáng lấp loáng ánh vàng. Núi Trùm Cát đứng sừng sững bên bờ sông tạo thành một khối tím thẫm mang dáng vẻ uy nghi trầm mặc. Dưới ánh trăng, dòng sông bỗng sáng rực lên, những con sóng nhỏ gợn lăn tăn đang mơn man vỗ nhẹ nhàng vào hai bên bờ cát
Miêu tả
b.
Một hôm, mẹ Cám đưa cho hai chị em Tấm, Cám mỗi đứa một cái giỏ và sai đi bắt tôm, bắt tép. Bà hứa rằng ai bắt dc đầy giỏ sẽ thưởng cho người đó một cái yếm đỏ. Tấm vốn chăm chỉ và sợ dì la mắng nên mải miết mò, chẳng mấy chốc đã bắt được đầy một giỏ cả tôm lẫn tép. Còn Cám vốn được nuông chiều nên chỉ thích vui chơi, đến chiều rồi mà vẫn không bắt được gì. Thấy Tấm bắt được một giỏ đầy tôm tép nên Cám bảo chị:
- Chị Tấm ơi, chị Tấm
Đầu chị bị lấm
Chị hụp cho sâu
Kẻo về dì mắng
Tấm tưởng Cám nói thật, hụp xuống thì Cám đã nhanh tay trút hết giỏ tôm tép của Tấm vào giỏ của mình rồi chạy về nhà trước
Tự sự
c.
Muốn xây dựng một đất nước giàu mạnh thì cần phải có những người hiền tài. Muốn trở thành những người tài giỏi thì học sinh cần phải chăm chỉ học tập văn hóa và rèn luyện thân thể, bởi vì chỉ có học tập và rèn luyện thân thể thì các em mới có thể trở thành những con người tài giỏi trong tương lai
Nghị luận
d.Trúc xinh trúc mọc đầu đình Em xinh em đứng một mình cũng xinhBiểu cảm
e.
Nếu ta đẩy quả địa cầu quanh trục theo hướng từ tây sang đông thì tất cả các điểm trên bề mặt của quả địa cầu đều chuyển động, chúng sẽ thay đổi vị trí và tạo thành những đường tròn.
Thuyết minh

3. Tìm hiểu về truyền thuyết.

Dựa vào định nghĩa sau đây, em hãy nêu các đặc điểm tiêu biểu của truyền thuyết.

Truyền thuyết là một loại truyện dân gian có nội dung kể về các nhân vật và các sự kiện có liên quan đến lịch sử, sự việc trong quá khứ, thường có các yếu tố tưởng tượng, kì ảo. Truyền thuyết biểu đạt thái độ, cách đánh giá của người dân đối với các nhân vật và sự kiện trong lịch sử

Trả lời:

Những đặc điểm tiêu biểu của thể loại truyền thuyết:

- Là truyện dân gian

- Đối tượng kể: nhân vật hoặc sự kiện liên quan đến lịch sử, sử dụng các yếu tố tưởng tượng.

- Mục đích: biểu đạt sự đánh giá của người dân đối với các nhân vật và sự kiện lịch sử.

D. Hoạt động vận dụng

1. Tìm hiểu qua sách báo hay trên mạng in-ter-net các thông tin về Hội Gióng, từ đó trao đổi với người thân dựa trên việc trả lời các câu hỏi sau:

- Hội Gióng được tổ chức vào thời điểm nào? Ở đâu?

- Mục đích của Hội Gióng là gì?

- Giá trị nổi bật của Hội Gióng?

Trả lời:

- Địa điểm, thời gian tổ chức Hội Gióng: đền Sóc tại xã Phù Linh, huyện Sóc Sơn, Hà Nội. Lễ hội tổ chức hằng năm vào các ngày từ mồng 6 đến mồng 8 tháng Giêng Âm lịch.

- Mục đích của Hội Gióng là để tưởng nhớ và ca ngợi công ơn của anh hùng Thánh Gióng trong việc đánh thắng giặc Ân – là một nhân vật trong tứ bất tử của tín ngưỡng dân gian Việt Nam.

- Gía trị nổi bật của Hội Gióng: giá trị văn hóa đã tồn tại bền vững và độc lập; giáo dục về truyền thống yêu nước, ý chí và khát vọng tự do chống lại giặc ngoại xâm.

2*. Có người cho rằng, truyền thuyết Thánh Gióng có liên quan tới những sự thật lịch sử. Hãy dựa vào truyền thuyết của thời kì Hùng Vương và cho biết ý kiến của em.

Trả lời:

Truyền thuyết Thánh Gióng có liên quan đến sự thật trong lịch sử, đó là:

- Làng Phù Đổng nay thuộc địa phận Huyện Gia Lâm – thành phố Hà Nội.

- Thời Hùng Vương, người dân đã biết sử dụng sắt để rèn làm vũ khí đánh giặc.

- Cuộc chiến chống giặc Ân của nhân dân ta dưới thời Hùng Vương.

- Truyền thống phát huy sức mạnh đoàn kết dân tộc đánh giặc ngoại xâm.

E. Hoạt động tìm tòi mở rộng

1. Đọc thêm

2. Sưu tầm và kể lại cho người thân hoặc bạn bè nghe truyền thuyết về một nhân vật lịch sử có mối quan hệ với các di tích ở địa phương em (nếu có).

Trả lời:

Truyền thuyết Mỵ Châu – Trọng Thủy (gắn liền với giếng ngọc Trọng Thủy – Mỵ Châu – nằm ở cửa đền An Dương Vương tại xã Cổ Loa, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội:

- An Dương Vương là vua nước Âu Lạc đã xây thành Cổ Loa, thần Kim Quy đã cho vua An Dương Vương mượn cái móng của mình để làm nỏ thần giữ thành.

- Triệu Đà là chúa đất Nam Hải, mấy lần mang quân sang đánh chiếm nước Âu Lạc nhưng không thành. Cho con trai là Trọng Thủy sang cầu hôn công chúa Mỵ Châu của nước Âu Lạc, nhưng mục đích là để tìm hiểu lý do tại sao quân Triệu Đà không thể giành được thành Cổ Loa.

- Công chúa Mỵ Châu vì yêu Trọng Thủy nên đã mang hết bí mật quốc gia kể cho chàng. Trọng Thủy sau khi biết lý do là từ chiếc nỏ thần, bèn đánh tráo nỏ giả rồi mang nỏ thật về cho cha. Trước khi đi, Trọng Thủy dặn dò Mỵ Châu rằng: Ta sắp phải đi xa, Phụ vương gọi ta về ngay để còn lên miền Bắc, đôi ta phải chia xa không biết đến khi nào mới gặp. Lỡ ngày nào đó có chiến trận, biết tìm nhau thế nào? Mỵ Châu nói: Thiếp có cái áo lông ngỗng, hễ chạy về hướng nào thì thiếp sẽ rắc lông ngỗng để chàng chạy theo dấu lông ngỗng sẽ tìm thấy thiếp.

- Về Nam Hải, Trọng Thủy đưa nỏ thần cho Triệu Đà, lập tức đưa quân sang tiến đánh Âu Lạc. An Dương Vương thất thế vì không có nỏ thần nên đã dẫn con gái leo lên lưng ngựa chạy trốn. Mỵ Châu rắc lông ngỗng suốt dọc đường.

- Đến bên bờ biển, An Dương Vương xin thần Kim Quy giúp đỡ. Thần hiện lên trong làn gió mù mịt, bảo rằng “giặc ở ngay sau lưng nhà vua đấy”. An Dương Vương đã nhận ra liền rút gươm chém Mỵ Châu. Trọng Thủy lần theo dấu vết lông ngỗng, đến gần bờ biển thì thấy xác vợ, òa khóc, mang thi thể về chôn trong thành, rồi nhảy xuống giếng trong thành xưa kia Mỵ Châu thường tắm. Giếng đó sau này được gọi là giếng Trọng Thủy.

- Tục truyền khi Mỵ Châu bị vua An Dương Vương giết, máu chảy xuống biển, trai ăn được nên có ngọc châu. Lấy được ngọc trai ấy mang về rửa ở giếng trong thành thì ngọc sáng vô cùng.

Các em học sinh có thể tìm hiểu thêm truyền thuyết An Dương Vương xây thành Cổ Loa.