Trang chủ > Lớp 10 > Tác giả - Tác phẩm Ngữ văn 10 > Nhàn - Sách giáo khoa Ngữ Văn 10

Nhàn - Sách giáo khoa Ngữ Văn 10

Nội dung Bài thơ: Nhàn


I. Đôi nét về tác phẩm Nhàn

1. Xuất xứ

Nhàn là bài thơ Nôm số 73, trong Bạch Vân quốc ngữu thi. Tiêu đề bài thơ do người đời sau đặt

2. Bố cục (4 phần)

- Phần 1 (hai câu đề): Hoàn cảnh sống của Nguyễn Bỉnh Khiêm

- Phần 2 (hai câu thực): Quan niệm sống của nhà thơ.

- Phần 3 (hai câu luận): Cuộc sống của Nguyễn Bỉnh Khiêm ở nơi quê nhà.

- Phần 4 (hai câu kết): Triết lí sống nhàn của nhà thơ

3. Giá trị nội dung

Bài thơ như lời tâm tình thâm trầm, sâu sắc, khẳng định quan niệm sống nhàn là hòa hợp với thiên nhiên, không màng lợi danh, luôn giữ cốt cách thanh cao trong bất kỳ cảnh ngộ của cuộc sống.

4. Giá trị nghệ thuật

- Sử dụng các phép đối, điển cố

- Ngôn từ giản dị, tự nhiên nhưng mang đậm tính triết lí

- Nhịp thơ chậm rãi, nhẹ nhàng như một lời tâm tình thâm trầm, sâu sắc.

II. Dàn ý phân tích Nhàn

I. Mở bài

- Giới thiệu chung về tác giả Nguyễn Bỉnh Khiêm và phong cách thơ của ông: Nguyễn Bỉnh Khiêm là một thi sĩ lớn của nền văn học dân tộc với tập thơ chữ nôm lừng danh Bạch Vân quốc ngữ thi. Thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm mang đậm tính triết lí, giáo dục, ca ngợi chí của kẻ sĩ, thú thanh nhàn đồng thời phê phán những thói hư, tật xấu trong xã hội.

- Giới thiệu khái quát về bài thơ “Nhàn”: “Nhàn” là bài thơ Nôm số 73 trong Bạch Vân quốc ngữ thi, là một lời tâm sự nhẹ nhàng, thâm trầm, sâu sắc về quan niệm sống nhàn của nhà thơ.

II. Thân bài

1. Hai câu đề: Hoàn cảnh sống của Nguyễn Bỉnh Khiêm

- Liệt kê các danh từ: mai, cuốc, cần câu

→ Những vật dụng gần gũi, thân thuộc với người nông dân. Từ đó, gợi nên hình ảnh của một người nông dân.

- Điệp số từ: một

→ Diễn tả sự cứng cỏi, vững chắc, kiên định, sẵn sàng nhưng bước đi vẫn bộc lộ sự an nhàn của tác giả, vừa đi vừa đếm

- Từ láy “thơ thẩn” diễn tả trạng thái thảnh thơi, tâm thế thong dong bình thản, trạng thái thoải mái không vướng bận, ưu tư, muộn phiền.

- Cách ngắt nhịp: 2/2/3 diễn tả phong thái tự tại, thong dong, thanh thản

→ Hình ảnh thi sĩ hiện lên như một người nông dân với các công cụ lao động. Mai để đào đất, cuốc để vun xới và cần câu để câu cá. Những vật dụng gắn liền với công việc lấm lem, nặng nhọc của người nông dân lao động nhưng đi vào trong thơ của Nguyễn Bỉnh Khiêm vẫn có cái vẻ thong dong, tự tại, có cái thanh nhàn thư thái riêng của một người đang rất nhàn rỗi.

⇒ Cuộc sống thong dong, tự tại, bình dị trong triết lí nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm.

2. Hai câu thực: Quan niệm sống của Nguyễn Bỉnh Khiêm.

- Nơi vắng vẻ” và “chốn lao xao” là hình ảnh mang ý nghĩa biểu trưng.

+ “Chốn lao xao” chính là nơi quan trường, chốn tranh giành tư lợi, sang trọng, tấp nập ngựa xe, quyền quí, kẻ hầu người hạ, ganh đua, luồn lọt, hãm hại nhau.

+ “Nơi vắng vẻ” là nơi thiên nhiên tĩnh tại, nơi tâm hồn tìm thấy sự bình yên.

- Ở đây tác giả tự nhận mình là dại, cho người là khôn nhưng thực chất đó là cách nói ngược, chứa ngụ ý. Nguyễn Bỉnh Khiêm đã từng viết

“ Khôn mà hiểm độc ấy khôn dại

Dại vốn hiền lành ấy dại khôn”

- Nghệ thuật đối:

+ Ta – người

+ Dại – khôn

+ Nơi vắng vẻ - chốn lao xao

→ Nguyễn Bỉnh Khiêm đã tạo nên hệ thống các từ ngữ đối lập nhau nhằm thể hiện rõ thái độ của mình: Khẳng định phương châm sống của bản thân pha chút mỉa mai với người khác, cho thấy sự khác biệt giữa ông với những người khác đó là cách chọn lựa cho mình một cuộc sống “ lánh đục tìm trong”

⇒ Hai câu thơ diễn tả quan niệm sống nhàn của nhà thơ là tránh xa vòng lợi danh, đua chen, phàm trần để giữ cho mình nhân cách trong sạch

3. Hai câu luận: Cuộc sống của Nguyễn Bỉnh Khiêm ở chốn quê nhà.

- Thức ăn là những món ăn thanh đạm, dân dã, thân thuộc: Măng trúc (mùa thu), giá (mùa đông)

- Lối sinh hoạt rất đời thường, tự nhiên, thoải mái, có sự gắn bó, có sự hòa quyện giữa con người với thiên nhiên: Tắm hồ sen (mùa xuân), tắm ao (mùa hạ)

- Cách ngắt nhịp: 4/3 nhịp nhàng

→ Hai câu thơ cho thấy cuộc sống của nhà thơ tuy thanh đạm mà rất thanh cao. Thanh đạm là những thức ăn quê mùa dân dã như măng trúc, giá đỗ, sinh hoạt cũng như mọi người, cũng tắm hồ, tắm ao nhưng cuộc sống này không hề khắc khổ, thanh đạm mà tao nhã, chan hoà với thiên nhiên.

⇒ Sự hài lòng với cuộc sống bình dị, thanh đạm mà thanh cao, hòa quyện với thiên nhiên suốt bốn mùa của tác giả

4. Hai câu kết: Triết lí sống nhàn

- Sử dụng điển tích giấc mộng đêm hòe: Coi phú quý tựa như một giấc chiêm bao

→ Diễn tả sự tự thức tỉnh, tự cảnh tỉnh mình và đời, khuyên nhủ mọi người nên xem nhẹ vinh hoa phù phiếm.

- “nhìn xem” thể hiện một thế đứng cao hơn, dường như đã tiên liệu ngay từ khi chọn lối sống của một người tự cho mình là “dại”

→ Cái nhìn của một bậc đại nhân đại trí.

- Cách ngắt nhịp 2/5 ở câu thơ cuối gợi lên cảm nhận phú quý chỉ là một giấc chiêm bao, một giấc mơ mà thôi

⇒ Hai câu thơ diễn tả triết lí sống “ Nhàn” của Nguyễn Bỉnh Khiêm:

+ Sống giản dị, thong dong, tự tại, hòa nhập với tự nhiên, thanh cao.

+ Tránh xa cuộc sống đua chen lợi danh, hồng trần, giữ lấy nhân cách thanh cao

⇒ Vẻ đẹp tâm hồn của Nguyễn Bỉnh Khiêm: sống thanh cao, hòa hợp với thiên nhiên, xem thường lợi danh, phú quý

III. Kết bài

Khái quát giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật của bài thơ: Cách sử dụng ngôn từ bình dị mà mang đậm triết lí cùng cách nói đối lập, bài thơ đã tạo nên chân dung cuộc sống, nhân cách của Nguyễn Bỉnh Khiêm: hòa hợp với thiên nhiên, cốt cách thanh cao, xem thường lợi danh.